Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

Chiều về trên đầm Lập An



08:37 | 07/05/2013
Đi trên quốc lộ 1A , khi qua thị trấn Lăng Cô, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, bạn sẽ nhìn thấy đầm Lập An. Cảnh đẹp thanh bình nơi đây mỗi khi chiều về sẽ khiến lòng bạn xao xuyến.
Chiều về trên đầm Lập An

Vẻ đẹp lúc mặt trời khuất núi !
Vẻ đẹp lúc mặt trời khuất núi.
Người ngư dân này đang giặt lừ một dụng cụ đánh bắt hải sản thô sơ
Người ngư dân này đang giặt dụng cụ đánh bắt hải sản thô sơ.
Những con thuyền của làng chài nhỏ bình yên khi mặt trời sắp xuống núi
Những con thuyền của làng chài nhỏ bình yên khi mặt trời sắp xuống núi.
Vẻ đẹp như tranh lúc hoàng hôn trên đầm Lập An
Vẻ đẹp như tranh lúc hoàng hôn trên đầm Lập An.
Sau chuyến ra khơi đánh cá , ngư dân về nhà lúc mặt trời sắp lặn!
Sau chuyến ra khơi đánh cá, ngư dân về nhà lúc mặt trời sắp lặn.

Từ ngày 29/1 đến ngày 10/5, mời độc giả tham gia cuộc thi ảnh "Làng quê Việt Nam" do VnExpress và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) phối hợp tổ chức.
Tác phẩm dự thi thể hiện dưới dạng file ảnh định dạng JPEG hoặc JPG, không lồng ghép thành dạng album, không để viền bo, bắn chữ hoặc logo của studio. Ảnh có chiều ngang dưới 1.000 pixel. Dung lượng mỗi bức lớn hơn 0,3 MB nhưng không vượt quá 5 MB. Người dự thi gửi tối thiểu 3 ảnh kèm theo lời bình rõ ràng, dễ hiểu bằng tiếng Việt có dấu, font Unicode.
Người dự thi gửi kèm thông tin cá nhân, bao gồm tên, năm sinh, chứng minh thư, địa chỉ và số điện thoại liên hệ (Những thông tin này được bảo mật).
Người gửi bài sẽ chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin, tác phẩm dự thi phải đảm bảo chưa từng được đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng khác. Ban tổ chức được quyền sử dụng các bài dự thi sau khi chương trình kết thúc mà không cần thông qua ý kiến của các tác giả.

Mỗi tuần, Ban tổ chức sẽ chọn ra 4 bộ ảnh đẹp nhất để dự thi tháng do độc giả chọn (dựa trên số điểm chấm trực tiếp). Từ đó, hàng tháng, ban tổ chức sẽ chọn ra 3 giải thưởng xuất sắc để trao thưởng, mỗi giải trị giá 2 triệu đồng (phần chấm điểm của độc giả là một trong những yếu tố giúp Ban giám khảo chọn ra danh sách người đạt giải). Cuối chương trình, ban tổ chức và nhà tài trợ sẽ chọn ra 3 bộ ảnh xuất sắc để trao thưởng, mỗi giải trị giá 5 triệu đồng.
Bài dự thi gửi về ban biên tập VnExpress tại đây.


Nguyễn Xuân Hữu Tâm
   Theo vnexpress.net

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

Thiên tài Thomas Edison


Thomas Edison

Một ngày kia, một cậu bé bị điếc 50% cầm về cho cha mẹ lá thư báo tin của nhà trường là cậu bị đuổi học vì trí khôn quá kém.

Đọc qua lá thư, mẹ cậu không những không nổi giận mà còn bênh vực cậu và bà trả lời cho nhà trường như sau: “Con tôi không quá ngu muội đến độ không còn học được gì nữa, từ nay tôi sẽ đích thân dạy cho con tôi”. Và cậu bé có tật lãng tai bị nhà trường đuổi không cho học nữa đó là thiên tài Thomas Edison, người đã phát minh ra nhiều kỹ thuật khoa học còn được sử dụng cho tới ngày nay, chẳng hạn như phát minh ra bóng đèn điện, máy chiếu phim, dĩa ghi âm. Sau khi ông qua đời, người ta đếm được ông đã có hàng trăm bằng cấp thị thực phát minh về công lao của mình.

“Con tôi không quá ngu muội đến độ không còn học được nữa. Tôi sẽ đích thân dạy học cho con tôi”. Tình thương và thái độ của người mẹ đối với con mình là Thomas Edison có thể nhắc chúng ta về tình thương và thái độ của Thiên Chúa đối với mỗi người chúng ta. Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chúng ta mặc dầu chúng ta là những tội nhân. Thiên Chúa không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta dù chúng ta sống xa Ngài. Ngài đã so sánh tình yêu của Ngài như tình yêu của một người mẹ hiền và còn hơn tình yêu của người mẹ hiền nữa: “Giả như người mẹ có thể quên con cái mình, thì Ta, Ta sẽ không bao giờ quên con”. Và Chúa Giêsu khi rao giảng Tin Mừng đã dùng hình ảnh vị chủ chăn đi tìm chiên lạc để mạc khải cho chúng ta tình thương của Thiên Chúa đối với con người.  Thiên Chúa, Đấng ngự trên trời không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn phải hư mất.
***

Quý vị và các bạn thân mến,

Những lời dạy của Chúa Giêsu gia tăng niềm hy vọng nơi mỗi người trong chúng ta. Ngài tận dụng những gì Ngài có thể làm để biến đổi chúng ta, để giúp chúng ta phát triển những tài năng mà Ngài ban cho chúng ta. Nếu không có tình thương của người mẹ thì Thomas Edison bị nhà trường đuổi kia sẽ không phát triển được hết tài năng của mình. Cũng vậy, nếu Thiên Chúa không yêu thương và kiên nhẫn nâng đỡ thì có lẽ chúng ta không làm được gì. Nhưng chúng ta cũng đừng ỷ lại, đừng lạm dụng tình thương của Chúa, đừng dừng lại trong những tật xấu ươn hèn của chúng ta. Hơn nữa, chúng ta cũng được mời gọi noi gương Chúa đối xử với chúng ta như thế nào để đối xử với anh chị em xung quanh như vậy. Thiên Chúa kiên nhẫn yêu thương chúng ta thì chúng ta cũng hãy kiên nhẫn yêu thương anh chị em xung quanh như vậy. Thiên Chúa không thất vọng về chúng ta thì chúng ta cũng đừng thất vọng về người anh chị em.

Tình yêu thương là phương thế duy nhất Thiên Chúa dùng để phát triển tài năng nơi chúng ta thì tình yêu của chúng ta với nhau cũng giúp nhau thăng tiến cuộc sống mỗi người anh em chúng ta. Hãy để cho Thiên Chúa yêu thương mình và xin Thiên Chúa giúp mình yêu thương anh chị em xung quanh như Ngài đã nêu gương để đừng ai bị loại bỏ ra ngoài khi Ngài ngự đến.
***

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì phẩm giá, vì tài năng Chúa ban cho mỗi người chúng con.

Xin giúp chúng con sống trong tình yêu Chúa và hăng say đóng góp phần của mình vào việc thăng tiến anh chị em xung quanh, thăng tiến xã hội, môi trường chúng con đang sống hằng ngày.

Xin cho chúng con được luôn tin tưởng vào tài năng Chúa ban cho chúng con để làm sinh sôi nén vàng Ngài đã giao cho. Amen!


Nguồn: R. Veritas
http://www.emty.org/ViewNewsDetail.aspx?tabid=73&mid=455&NewsPK=14052

Thứ Hai, 29 tháng 4, 2013

MỘT NỤ CƯỜI





Văn hào Pháp Antoine de Saint Exupéry là một phi công trong thời Đệ nhị thế chiến. Chính từ những năm tháng này mà ông đã viết ra truyện ngắn có tính tự thuật với tựa đề “Nụ cười” (Le sourire).Trong câu truyện, ông thuật lại việc ông bị quân Đức quốc xã bắt làm tù binh và bị đối xử một cách tàn bạo. Ông viết: “Tôi trở nên quẫn trí. Bàn tay tôi giật giật, cố gắng rút trong túi áo một điếu thuốc. Nhưng tôi lại không có diêm quẹt. Qua hàng chấn song nhà giam, tôi trông thấy một cai tù. Tôi gọi: “Xin lỗi, anh có lửa không?”...Anh ta nhún vai rồi tiến lại gần. Khi rút que diêm, tình cờ mắt anh nhìn vào mắt tôi. Tôi mỉm cười mà chẳng hiểu vì sao lại làm thế. Có lẽ vì khi muốn làm thân với ai đó, người ta dễ dàng nở một nụ cười. Lúc này dường như có một đốm lửa bùng cháy nhanh qua kẽ hở giữa hai tâm hồn chúng tôi, giữa hai trái tim con người. Tôi biết anh ta không muốn, nhưng do tôi đã mỉm cười nên anh ta phải mỉm cười đáp lại. Anh ta bật que diêm, đến gần tôi hơn, nhìn thẳng vào mắt tôi và miệng vẫn cười. Giờ đây trước mặt tôi không còn là một viên cai tù Phát xít nữa, mà chỉ còn là một con người. Anh ta hỏi tôi: “Anh có con chứ?” Tôi đáp: “Có” và lôi từ trong ví ra tấm hình nhỏ của gia đình mình. Anh ta cũng vội rút trong túi áo ra hình những đứa con và bắt đầu kể lể về những kỳ vọng của anh đối với chúng. Đôi mắt tôi nhòa lệ. Tôi biết mình sắp chết và sẽ chẳng bao giờ gặp lại người thân. Anh ta cũng bật khóc. Đột nhiên, không nói một lời, anh ta mở khóa và kéo tôi ra khỏi buồng giam. Anh lặng lẽ đưa tôi ra khỏi khu vực thị trấn chiếm đóng, thả tôi tự do rồi quay trở về. Thế đó, cuộc sống của tôi đã được cứu rỗi chỉ nhờ một nụ cười” (x. Hanoch McCarty, Short Stories to warm the heart). 


Nếu có một lúc nào đó trong đời, bạn gặp một ai đó không cho bạn được một nụ cười như bạn đáng được nhận, thì bạn hãy quảng đại mà nở một nụ cười với người đó. Bởi lẽ không ai cần đến nụ cười cho bằng người không bao giờ biết cười” (Khuyết danh).
Dĩ nhiên, cười cũng có 36 vạn cái cười khác nhau. Có cái cười phải trả bằng cái giá của cả một đế quốc như cái cười của nàng Bao Tự thời Đông Chu liệt quốc. Có cái cười của bạo chúa Nero khi cho nổi lửa đốt thành La Mã để có cái cớ bách hại các tín hữu Kitô tiên khởi...Gần đây, có cái cười chỉ có thể làm cho thế giới văn minh muốn nôn mửa đó là cái cười của những tên khủng bố người Nam Dương khi ra trước tòa để bị xét xử vì tội đặt bom sát hại những người vô tội.


 
Nhưng loại bỏ những cái cười ngạo nghễ, độc ác và điên cuồng ấy đi, người ta thấy nụ cười nào cũng đều là gạch nối tự nhiên giữa con người với nhau. Cười là muốn đi vào cái phần sâu thẳm nhứt của tâm hồn mà không gì có thể đạt tới được. Cười có sức tước đoạt mọi vũ khí tàn độc nhứt trong con người. Bên dưới cái vỏ ngụy tạo của mỗi người là một “cung thánh” bất khả xâm phạm. Đó là nơi duy nhứt để gặp gỡ nhau, liên kết với nhau bên kia ranh giới của hận thù, đố kỵ, sợ hãi hay chiến tranh. Chính nơi đây mà văn hào Saint Exupéry và người cai tù Phát xít đã gặp nhau và gặp nhau nhờ một nụ cười. 


Tác giả Hanoch McCarty, khi bình về truyện ngắn “Nụ cười” của Saint Exupéry, đã nêu lên câu hỏi:“Tại sao chúng ta cười khi gặp một bé thơ?” Và tác giả đã trả lời: “Có lẽ vì chúng ta thấy được một tâm hồn tinh sạch không vướng mắc trong bất cứ một lớp vỏ bọc nào. Chúng ta biết và cảm thấy nụ cười của trẻ thơ là một nụ cười chân thực, không lừa dối và tâm hồn trẻ thơ trong chính chúng ta mỉm cười đáp trả một cách say sưa”.
Nụ cười chân thực luôn có tính lây lan.Thấy ai đó cười một cách chân thực, chúng ta không thể không cười đáp trả. Tôi thường nghĩ đến nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhà lãnh đạo tinh thần của Tây Tạng. Nhìn ngài, tôi mới hiểu được hình tượng của Phật Di Lặc. Tôi cho rằng với Phật Giáo, đời không chỉ là bể khổ. Đời cũng đáng để vui hưởng, để cười và để trao cho nhau nụ cười hơn là thù hận hay buồn phiền. 



Nhìn nụ cười của Đức Đạt Lai Lạt Ma, tự dưng tôi cũng muốn làm một phật tử. Dĩ nhiên theo cách thế của tôi hay ít ra theo tinh thần của nhà lãnh đạo tinh thần này. Cuộc sống có quá nhiều phúc lành cần được vui vẻ đón nhận và chia sẻ với mọi người. Ngay cả bệnh tật, xét cho cùng, cũng là một phúc lành. Nhờ nó mà ta biết cảm thông với người khác hơn. Nhờ nó mà ta cũng biết cảm thông với bản thân hơn. Và dĩ nhiên, cũng nhờ nó mà ta được tôi luyện để biết mỉm cười với cuộc đời.

Chu Thập

Thứ Năm, 18 tháng 4, 2013

THẦY GIÁO TRƯỞNG DO THÁI NHẢY MÚA



 Một câu chuyện trong sách Ha-si đim (Hasidim)

Những người Do Thái ở một tỉnh nhỏ bên nước Nga rất nóng lòng chờ đợi thầy giáo trưởng tới. Đó sẽ là một biến cố hiếm hoi nên họ đã để nhiều thời giờ chuẩn bị những câu hỏi mà họ sẽ đặt ra cho con người thánh thiện đó.

Cuối cùng khi thầy giáo trưởng đến và họ gặp thầy ở tòa thị chính, thầy có thể cảm nhận bầu khí căng thẳng khi mọi người sẵn sàng lắng nghe những câu trả lời mà thầy để dành cho họ.

Trước hết, thầy không nói gì; thầy chỉ nhìn chằm chằm vào đôi mắt họ và ngậm miệng ngân nga một giai điệu lặp đi lặp lại. Rồi mọi người bắt đầu ngậm miệng ngân nga theo. Thầy bắt đầu hát và họ hát theo thầy. Thầy lắc lư và nhảy múa khoan thai, với những bước chân có chừng mực. Toàn thể giáo đoàn bước theo thầy như vậy.

Chẳng bao lâu, họ dồn hết tâm trí vào cuộc nhảy múa cho đến nỗi họ bị cuốn hút vào những động tác mà quên đi những gì khác ở trên mặt đất. Vì vậy mỗi người thuộc đám đông đó làm thành một tổng thể được chữa lành khỏi sự rạn nứt từ bên trong đã cầm giữ chúng ta xa rời Chân Lý.

Cũng phải mất gần một tiếng đồng hồ trước khi cuộc khiêu vũ chậm lại để rồi chấm dứt. Với sự căng thẳng được gỡ khỏi nội tâm con người, ai nấy ngồi xuống trong sự an bình thinh lặng tràn lan căn phòng. Rồi vị giáo trưởng nói những lời duy nhất tối hôm đó: "Tôi tin chắc tôi đã trả lời các câu hỏi của quý vị rồi".

Người ta hỏi một vị tu sĩ Hồi giáo tại sao ông ta thờ phượng Chúa bằng cách nhảy múa. Ông trả lời: "Vì thờ phượng Chúa có nghĩa là chết cho chính mình; sự nhảy múa giết chết cái tôi. Khi cái tôi chết, mọi vấn nạn chết theo với nó. Nơi nào vắng bóng cái tôi, ở đó có Tình Thương, ở đó có Thiên Chúa".

«MỘT TRONG CÁC NGƯƠI LÀ ĐẤNG CỨU THẾ»



Tác giả ANTHONY DE MELLO
Nhà văn Hương Vĩnh chuyển ngữ

Đang ngồi thiền trong hang động trên dãy Hi-Mã-Lạp-Sơn, Minh Sư mở mắt ra và trông thấy một vị khách bất ngờ đang ngồi trước mặt mình là viện phụ của một tu viện nổi tiếng. 
Minh Sư hỏi: "Ngài tìm kiếm gì?
Viện phụ thuật lại một câu chuyện bất hạnh. Có một thời, tu viện của ngài rất nổi tiếng khắp phương Tây. Các tu phòng tràn đầy những người dự tu trẻ trung và nguyện đường vang vọng tiếng cầu kinh của các tu sĩ. Nhưng thời buổi khó khăn đã xảy tới cho tu viện. Người ta không còn lũ lượt kéo tới để bồi dưỡng tâm linh, lớp người trẻ dự tu trở nên khan hiếm, nguyện đường trở thành vắng lặng. Chỉ còn sót lại một nhóm tu sĩ lo thi hành phận sự với con tim nặng trĩu. 
Và đây là điều mà vị viện phụ muốn biết: "Có phải vì tội lỗi nào đó của chúng tôi mà tu viện đã rơi vào tình trạng này?"
Minh Sư trả lời: "Đúng thế, đó là tội vô minh." 
"Và tội đó như thế nào?"
"Một trong số các ngươi là Đấng Cứu Thế trá hình mà các ngươi không nhận biết."  
Nói xong, Minh Sư nhắm nghiền mắt lại và tiếp tục thiền quán. 
Suốt hành trình nhọc nhằn trở về tu viện, con tim ngài viện phụ đập nhanh với ý nghĩ là Đấng Cứu Thế – vâng chính Đấng Cứu Thế – đã trở lại trần gian và đang sống ngay trong tu viện. Làm sao mà ngài viện phụ không thể nhận ra Ngài? Và ai có thể là Ngài đây? Thầy nhà bếp ư? Thầy lo việc bàn thờ ư? Thầy thủ quỹ ư? Thầy bề trên nhà tập ư? Không, không phải thầy đó: thầy có quá nhiều tính xấu, tiếc thay! Nhưng mà vị Minh Sư nói là Đấng Cứu Thế đã trá hình. Biết đâu những tính xấu đó là một trong những điều trá hình của Ngài? Thử nghĩ xem, mọi thầy trong tu viện đều có tính xấu. Và một người trong họ phải là Đấng Cứu Thế!  
Khi trở về tu viện, ngài viện phụ đã triệu tập các tu sĩ và thuật lại điều mà ngài đã khám phá. Họ nhìn nhau, bán tín bán nghi. Đấng Cứu Thế? Ở đây? Không thể tin được! Nhưng xem ra Ngài ở đây bằng cách trá hình. Vậy thì, có thể lắm. Biết đâu thầy này hay thầy kia thì sao? Hoặc giả tu sĩ khác nữa kìa? Hoặc là... 
Chắc chắn một điều: nếu Đấng Cứu Thế ở đó bằng cách trá hình, vị tất họ có thể nhận ra Ngài. Vì vậy, họ bắt đầu đối xử với hết mọi người với lòng kính trọng và quí mến. Họ tự nhủ mỗi khi bắt đầu tiếp xúc với nhau: "Biết đâu, Đấng Cứu Thế là người này."
Kết quả là không khí trong tu viện đã bừng lên niềm vui. Chẳng bao lâu hàng hàng lớp lớp những người dự tu đã xin nhập Dòng – và rồi nguyện đường lại bắt đầu vang vọng tiếng cầu kinh thánh thiện và sự mừng vui của các tu sĩ chiếu tỏa Đức Mến. 
 Có đôi mắt sáng được ích gì,
nếu con tim bị mù quáng?

THƯỢNG ĐẾ KHÔNG CÓ?



Thầy đã đưa tay đến với các con, các con phải đưa tay tới với Thầy. Thầy sẽ dìu dắt các con đến gần Thầy và trở về cùng Thầy. Thầy cùng các con là một, sống trong lẽ thiên nhiên, trong mùa xuân vĩnh cửu.”
Huyền Khung Cao Thượng Đế (Thánh Giáo 10-02-1975)

*****

Tại tiệm hớt tóc



Đây là chuyện tôi nghe. Một người đến tiệm hớt tóc quen để cắt tóc, cạo râu và lấy ráy tai. Trong lúc hai bàn tay thoăn thoắt làm việc, ông thợ luôn miệng trò chuyện rôm rả với thân chủ. Những mẩu chuyện đầu Ngô mình Sở dẫn dắt thế nào đó mà bỗng dưng họ lại sa đà qua đề tài… thần học: Thượng Đế có hay không có?
Thợ hớt tóc vừa đưa một đường kéo ngọt sớt tỉa chỏm tóc lòa xòa trước trán thân chủ vừa phán một câu chắc nịch: “Trên đời này làm gì có Thượng Đế!”
Vốn là một tín đồ, thế nên khách không khỏi phật ý, bèn vặn lại: “Tại sao nói thế?”
Thợ hớt tóc nói luôn một mạch: “Thì cứ ra phố mà xem. Nhiều trẻ em phải lang thang kiếm sống. Lắm người già yếu còn phải còng lưng dầm mưa dãi nắng bán rong. Bao kẻ không nhà đêm đêm vẫn mượn vỉa hè nằm co ro, lăn lóc. Chưa kể là vào các bệnh viện lúc nào cũng thấy chen chúc và dẫy đầy nghịch cảnh đau lòng… Nếu quả thật trên đời này có một Đấng Thượng Đế từ bi luôn thương xót chúng sinh, thì cớ sao những mảnh đời khổ ải đó lại không được Ngài cứu vớt?!”
Khách làm thinh, lòng bực bội.
Khi trả tiền xong, khách bước ra khỏi tiệm hớt tóc và tình cờ bắt gặp bên kia đường một người râu tóc lùm xùm, thậm thượt, rõ ra đã lâu ngày không hớt không cạo.
Khách liền quày trở vào tiệm: “Anh biết chứ? Trên đời này làm gì có thợ hớt tóc!”
Thợ hớt tóc sửng sốt: “Nói vậy mà nghe được à?! Thế tôi là ai? Ai vừa mới hớt tóc cho anh ở đây?”
Khách kéo thợ hớt tóc ra cửa, chỉ sang bên kia đường: “Đấy! Thợ hớt tóc không hề có, vì nếu có thì người kia đã không phải để râu tóc lùm xùm, thậm thượt như vậy.”
“Sai bét! Thợ hớt tóc vẫn luôn có, nhưng tay đó không chịu bước vào tiệm hớt tóc thì dẫu có đông có nhiều thế nào chăng nữa, thợ hớt tóc cũng đành bó tay.”
Khách mỉm cười: “Chính xác! Thượng Đế cũng vậy mà thôi. Ngài luôn luôn đưa tay ra chờ đợi chúng ta nhưng chúng ta không chịu tìm đến mà nắm lấy tay Ngài. Chúng ta luôn tìm đủ cách phủ nhận Thượng Đế, và kiêu ngạo với tài hèn sức mỏng của mình. Đó là nguyên do sâu xa của mọi nỗi đau khổ trên thế gian.”

Phú Nhuận, 05-5-2010
Dũ Lan Lê Anh Dũng
Tâm Duyên chân thành cảm ơn tác giả bài viết